ÔNG TỪ

ÔNG TỪ

 

Mặt trời đỏ au, tròn ủng như một trái banh lửa từ từ rơi xuống, lăn khỏi ngọn đồi xám ngắt đằng trước một khu điều dưỡng tồi tàn, xập xệ. Rồi những giọt nắng cuối cùng cũng tắt lịm hẳn đi, để lại sau lưng một màu tím ảm đạm. Trời bắt đầu chuyển lạnh và gió chiều se se thổi, lay động những cành cây khô khẳng khiu, đứng run trong nỗi cô đơn, tuyệt vọng. Ông Từ ngồi đó, lặng yên như một bức tượng trên chiếc xe lăn cũ kỹ, tại một căn phòng nhỏ bé nằm cuối khu viện dưỡng lão, mắt ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn với một nỗi xót xa, trống vắng.

Đây đó nhà nhà đã bắt đầu lên đèn. Đường phố dường như tối hẳn đi. Lâu lâu lại có một vài chiếc xe của ai đó lao vụt qua, như thể sợ bị trễ bữa cơm chiều với gia đình. Cảnh tượng này ông Từ đã ngắm nhìn từ nhiều năm qua, nhưng tự nhiên hôm nay ông lại thấy nó buồn tẻ lạ thường. Trước kia ông cũng có nhà để về, có gia đình để ăn cơm chung đấy chứ. Nhưng hết thảy mọi thứ đều đã theo cái ánh hoàng hôn mà ra đi, để lại cho ông một nỗi niềm đau thương chua xót.

 ♦♦♦

Ông Từ trước năm 75 là một sỹ quan quân đội hào hùng. Ông kiêu hãnh lấy được một phụ nữ xinh đẹp. Họ ăn ở với nhau được hai mặt con. Nhưng rồi miền nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, cuộc sống dân chúng hết thảy đều lâm vào cảnh lầm than. Gia đình ông theo vận nước nổi trôi mà dạt đến bến bờ tự do.

 Những ngày tháng đầu tiên sống trên đất Mỹ, ông Từ đã cật lực cày hai ba jobs để cho vợ con ông được sống xung túc. Nhưng sức người có hạn. Đến một ngày kia, ông Từ đã quỵ ngã vì bị stroke. Bác sĩ cho biết rằng ông lo lắng và làm việc quá độ nên bị nghẹt mạch máu não. Ông Từ sẽ bị bán thân bất toại và ngồi xe lăn suốt đời.

Sau khi nghe tin sét đánh, ông Từ đã nhiều lần tự vẫn, nhưng không thành công. Người vợ yêu quí bên cạnh ông bao nhiêu năm qua, xưa sống trong nhung lụa đã quen, nay đâm ra hoang mang lo sợ trước tình cảnh mới. Trong cơn bí lối cùng quẫn, bà đã bỏ ông và các con ra đi, chung sống với một người đàn ông mà trước kia là lính dưới quyền chỉ huy của ông mà thôi. Ông Từ lòng đau như cắt. Mỗi lần nghĩ đến vợ và thuộc hạ, ông đều giận giữ, chửi đổng:

- Đồ phản bội! toàn là một lũ chó má.

Rồi nhìn sang các con, ông Từ tưởng rằng sẽ tìm được sự an ủi. Nào ngờ hai đứa con của ông cũng bỏ ông đi luôn, sau khi đem ông vào viện dưỡng lão này. Đứa lớn phần vì hận mẹ, phần vì giận ông không lo được cho nó đến nơi đến chốn, đã bỏ đi tiểu bang khác lập nghiệp. Bao nhiêu năm trời bặt vô âm tín. Nó chẳng thư từ, hay về thăm cha lấy một lần. Cuối cùng thì ông được tin cảnh sát cho biết là con ông vì muốn làm giàu nhanh, đã tham gia vào một nhóm buôn bán ma túy, bị bắt và bị kết án tù chung thân. Ở trong tù, đứa con trai lớn vẫn không muốn liên lạc gì với cha mẹ nó cả.

Còn đứa con út thì ở lại chung thành phố với ông vì cậu chưa đủ 18 tuổi. Nhưng có mà cũng như không. Chính phủ đem cậu vào Foster Care nuôi dưỡng. Cậu cũng giống hệt như người anh cậu vậy, chẳng bao giờ đến thăm cha lấy một lần. Nhưng rồi chính phủ cũng không giữ được cậu lâu. Ngay sau khi vừa đủ tuổi để rời khỏi Foster House, cậu đã nhanh chóng tham gia vào một nhóm băng đảng choai choai. Rồi liền ngay sau đó cậu bị bắn chết trong một vụ đánh lộn dành gái tại một quán cafe. Ngày người ta đưa tin con út ông mất, ông Từ cũng chết lặng tim, được đem vào nhà thương cấp cứu.

Sau khi xuất viện, cõi lòng ông trở nên băng giá. Từ đó cuộc đời ông Từ là những chuỗi ngày dài buồn lê thê, tăm tối như một chốn tha ma. Ông khép kín cửa lòng và không muốn tiếp xúc với ai. Mỗi ngày ông chỉ thích ngồi một mình ngắm cảnh mặt trời lặn, như ngắm nhìn chính cuộc đời của ông vậy. Mỗi khi có người từ các hội đoàn ở nhà thờ đến thăm, ông Từ đều xua tay đuổi đi:

- Người mong thì lại không đến. Còn người không mong thì đến để làm gì? Rách việc.

 ♦♦♦

Sống trong bóng tối, khô cằn đã lâu, ông mất dần đi cái cảm giác yêu và được yêu. Lần lần rồi thì ông Từ cũng bỏ dự lễ và giữ các điều phụng vụ. Mỗi khi có người đem Mình Thánh Chúa vào cho bịnh nhân, ông đều từ chối nhận lãnh, và đuổi họ đi. Mối liên hệ giữa ông và Thiên Chúa ngày càng xa cách. Đâu đâu ông cũng chỉ thấy một màu xám thê lương, ảm đạm của sự chết....

Mải mê chìm đắm trong suy tư, ông Từ không biết là đã có người đứng sau lưng ông tự nãy giờ. Cô gái chờ đợi một lúc, thấy ông Từ không để ý, cô đành phải tiếng để phá tan đi cái bầu không khí yên tĩnh, và quá ngột ngạt của căn phòng:

- It’s time for dinner.

Ông Từ giựt mình, nhìn quanh và nhận ra đó là tiếng của cô y tá mới vào làm việc ở đây được vài ngày. Vì cô là người mới đến, nên bị mọi người đưa vào phục vụ cho ông Từ, một bịnh nhân khó tính nhất ở đây.

Cô vui vẻ tiến lại gần ông, đẩy cho chiếc xe lăn về phía cửa phòng. Rồi tiện tay, cô bật công tắc điện cho đèn sáng lên mà không biết là ông Từ vốn không thích ánh sáng. Ánh đèn tỏa lan, tràn ngập khắp căn phòng, làm ông chói mắt. Ông Từ bực dọc, tính gắt ầm lên. Nhưng rồi lại thấy hôm nay trong người không được khỏe, không còn hơi sức đâu mà la rày ai nữa, ông đành ngồi thụ động trên xe, để mặc cho cô y tá đẩy nhanh về phía phòng ăn. Vừa đi, cô vừa nhắc cho ông nhớ là hôm nay sẽ có một nhóm người Việt Nam, thuộc các hội đoàn trong giáo xứ sẽ đến hát giúp vui sau bữa cơm chiều mừng lễ Phục Sinh và sẽ có thừa tác viên Thánh Thể cho bịnh nhân rước lễ.

Hôm đó ông Từ ăn uống vội vã, rồi tự tay lăn chiếc xe về phòng mà không đợi ai giúp. Ông bỏ đi như thể trốn tránh một cái gì đó. Về được đến phòng, ông thở phào nhẹ nhõm vì tưởng là có thể được yên thân trong cái thế giới riêng vỏ ốc của mình. Nào ngờ tiếng đàn hát vang lên văng vẳng, vọng lại từ phía phòng ăn:

“Nào ta hãy mừng vui!
Chúa đã sống lại thật rồi.
Alleluia a.. a ...”

Ông Từ tự dưng nổi cáu, lẩm bẩm một mình:

- Mừng với lại chả vui. Đúng là một lũ vô công rỗi nghề. Các ngươi thì biết cái quái gì về đau khổ mà bảo người khác mừng với lại chả vui?

Ông Từ bực dọc lăn xe về mé giường, định bụng là sẽ lên giường ngủ sớm mà không cần gọi đến cô y tá giúp.

Đang loay hoay với chiếc xe bị kẹt lại ở cuối giường thì bỗng mắt ông chạm phải một đôi mắt to đen lay láy. Ông giật mình nhìn lên. Thì ra đó là đôi mắt của một cậu bé con độ chừng bốn hay năm tuổi. Người nó trông yếu đuối, xanh xao lắm, nhưng có đôi mắt thì lại rất linh động và dường như biết nói.

Cậu ta cứ nhìn ông đăm đăm làm cho ông khó chịu. Nếu như là mọi lần thì có lẽ ông Từ đã gắt ầm lên. Nhưng nay vì người khách lạ lại là một cậu bé tí hon yếu đuối, nên ông Từ lúng túng chẳng biết phải làm sao. Đang lúc phân vân không biết có nên đuổi khách như mọi lần chăng, thì cậu bé tiến lại gần ông. Theo phản ứng tự nhiên, ông Từ ngả người ra đằng sau. Nhưng cậu bé vẫn bước tới và đặt vào tay ông một quả bong bóng màu xanh. Vừa lúc ấy, có tiếng một phụ nữ gọi con ở bên ngoài:

- Việt, con đâu rồi?

Cậu bé giựt mình, vội ù té chạy, bỏ lại ông Từ trong căn phòng vắng, vẫn còn ngồi ngơ ngác nhìn chiếc bong bóng màu xanh mà chưa hiểu gì.

 ♦♦♦

Sau bận đó trở đi, cứ mỗi tuần vào Chủ nhật, lúc thì buổi sáng, khi thì buổi chiều, cậu bé lại đến thăm ông. Nghe người ta kể lại thì cậu bé đó là con của một phụ nữ trẻ làm thừa tác viên Thánh Thể trong giáo xứ. Cậu bé bị bịnh tim ngay từ khi lọt lòng mẹ. Bố cậu vì có vợ bé nên đã bỏ mẹ con cậu khi cậu vừa tròn 2 tháng tuổi. Ông ta khai không nghề nghiệp, làm tiền mặt để khỏi phải chu cấp gì cho mẹ con cậu cả.

Thế là hai mẹ con cậu đã phải sống trong cảnh cô đơn, thiếu thốn. Nhưng đáng phục là ở chỗ, cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, hai mẹ con cậu vẫn trông cậy ở Chúa và sẵn sàng chia xẻ tình yêu Ngài đến với người xung quanh. Đến khi cậu bé lơn lớn, người mẹ bắt đầu tham gia vào nhóm thừa tác viên Thánh Thể. Cô tình nguyện đem Mình Thánh Chúa đến cho những người bịnh không thể tham dự thánh lễ với cộng đoàn được.

Trong khi mẹ cậu đọc Phúc Âm và cho mọi người chịu Mình Thánh Chúa ở phòng lân cận, thì cậu bé lại lẻn sang phòng thăm ông Từ. Sau một thời gian dài, ông Từ đã thấy mình quen dần với sự có mặt của cậu bé có cái gương mặt xanh xao và đôi mắt to đen ấy. Cậu chẳng nói chuyện bao giờ, chỉ nhìn ông một lát rồi đặt vào tay ông một quả bong bóng màu xanh, màu xanh của sự hy vọng.

Ngày tháng cứ thế trôi qua lặng lẽ. Rồi mùa đông đến, ông Từ lại không thấy cậu bé và người mẹ đâu cả. Người đem Mình Thánh Chúa đến giờ đây lại là một người đàn bà đứng tuổi. Ông Từ chờ đợi một tuần, rồi đến hai tuần. Cuối cùng, vì nhớ cậu bé quá nên ông đánh liều hỏi người thừa tác viên Thánh Thể mới:

- Xin lỗi bà, bà cho tôi hỏi. Người phụ nữ vẫn thường đem Mình Thánh Chúa đến đây và cả con của cô ta nữa bây giờ ở đâu? Sao họ để cho bà đi giúp vậy?

Người đàn bà ôn tồn trả lời:

- Dạ thưa ông, mấy hôm nay con của cô ta trở bịnh tim, phải vào bịnh viện điều trị, hiện vẫn còn trong thời gian nguy hiểm. Bác sỹ nói có thể là phải mổ. Không biết cậu bé có sống nổi nữa không. Nếu nó chết, thì không biết là mẹ nó sẽ ra sao.

Ông Từ nghe xong thì lạnh tái cả người. Suốt mùa đông năm ấy, người ta thấy ông cứ co ro ra vào phòng khách, mắt dõi về phía cánh cửa chính như chờ đợi một ai đó. Lòng ông cứ bồn chồn lo lắng. Ông dường như là lo sợ sắp sửa lại mất đi một cái gì nữa rất quí giá trong đời. Cuối cùng vì không thể chịu đựng được nữa, ông Từ đã quyết định theo một số người bịnh ở phòng bên cạnh đến nhà thờ dự lễ Chủ Nhật và cầu nguyện cho cậu bé qua cơn hiểm nghèo.

Hôm đó lại là Chúa Nhật Lễ Lá. Khi chiếc xe van chở các ông bà cụ dừng lại ở cửa chính của nhà thờ, thì ông Từ lại bắt đầu tần ngần, nửa muốn vào, nửa muốn không. Ông không giữ đạo đã lâu, nay trở lại nhà thờ nên có phần ngài ngại làm sao đó.

Nếu không phải là để cầu nguyện cho cậu bé, có lẽ cho đến bây giờ ông vẫn chưa chịu đi nhà thờ đâu. Thấy ông Từ chần chừ chưa vô, anh tài xế lại không hiểu ý, tưởng là ông Từ cần giúp đẩy chiếc xe lăn, nên anh chạy lại gần bên, phụ một tay đẩy cho chiếc xe phóng nhanh qua cửa.

Vào được đến bên trong, ông Từ thấy lòng mình an tâm hơn. Nhà thờ hôm nay chật ních những người, có lẽ là vì cộng đoàn đang bước vào tuần thánh. Ai nấy đều dự lễ sốt sắng. Riêng chỉ có ông Từ là xem lễ một cách bàng quang thôi. Ông bỏ lễ đã lâu, lại không rành mấy về nghi thức phụng vụ nên mọi thứ đều gây sự chú ý nơi ông.

Rồi đến thứ năm tuần thánh, thấy các phòng lân cận mọi người náo nức đi dự thánh lễ, ông Từ cũng nối đuôi theo sau lên xe. Nhờ tham dự thánh lễ hôm đó mà ông Từ đã có dịp nghe lại đoạn Kinh Thánh kể việc Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ yêu dấu của Ngài. Nhưng trớ trêu thay, liền ngay sau đó môn đệ của Ngài lại đáp trả bằng cách người thì phản bội bán đứng Thầy, kẻ thì chối bỏ, và tất cả đều chạy trốn, để Ngài cô đơn trong cơn nguy khó. Ông Từ thấy thấm thía điều này và trằn trọc mãi suốt đêm hôm đó.

Qua đến ngày thứ sáu hôm sau, ông Từ lại thấy trong lòng không yên, nên một lần nữa ông theo nhóm người bịnh đến nhà thờ. Hôm nay cộng đoàn đi Chặng Đàng Thánh Giá. Ông theo mọi người đi hết 14 chặng với một dáng vẻ trầm ngâm, suy tư.

 ♦♦♦

Càng đi, ông lại càng thấy Thiên Chúa mà trước kia ông xem là một Đấng xa lạ vì không đồng cảm, giờ đây lại là một Đấng đầy ắp yêu thương và gần gũi. Ông nhận thấy Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa khi xuống thế làm người, đã nếm trải tất cả mọi thứ đau khổ ở đời. Từ nghèo nàn, cô đơn cho đến bị kết án , tù đày. Bị đánh đập và bị phỉ báng. Rồi cuối cùng, để hoàn tất công trình cứu độ của Ngài, Con Thiên Chúa đã chịu chết tức tưởi đau thương trên Cây Thập Giá.

 Cái chết là cái mà con người ta vẫn hằng sợ hãi và lo lắng nhất thì Ngài cũng chẳng khước từ nhận lãnh. Ngài đã đi là đi cho đến cùng đích. Vậy thì còn cái chua cay, đau đớn nào nữa ở đời mà Đức Giêsu Kitô đã không trải qua để chia xẻ với loại phàm nhân như ông nữa chứ?.

Ông Từ suy gẫm đến chặng thứ 14 thì không thể cầm lòng được nữa, ông oà lên khóc rưng rức như một đứa trẻ thơ. Mọi người xung quanh hết nhìn ông, rồi lại nhìn nhau vì chẳng hiểu gì.

Tối hôm đó ông Từ chần chừ nấn ná ở lại nhà thờ lâu lắm. Cuối cùng thì ông quyết định đến xin phép cha sở cho xưng tội cách đặc biệt riêng. Cha sở thuận ý và ở lại giải tội cho ông đến khuya.

Sáng Chúa Nhật Phục Sinh, ông Từ thức dậy thật sớm để chuẩn bị tham dự thánh lễ với mọi người. Trước khi đi, ông Từ không quên nhờ cô y tá kéo tung bức màn che cửa sổ dày để cho những tia nắng ấm áp của buổi bình minh tràn vào, làm sáng rực cả căn phòng mà trước kia vốn lạnh lẽo và tối như bưng của ông.

Rồi ông Từ dự lễ sốt sắng hôm đó. Suốt cả buổi lễ, đoạn Thánh Thư của Thánh Phaolô Tông Đồ cứ văng vẳng mãi bên tai ông: “Anh em hãy vui lên trong Chúa vì hôm nay anh em đã được tái sinh nhờ Máu và Nước của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống”.

Ông Từ xúc động quá thể. Đến khi rước lễ, ông run run bật khóc một lần nữa. Mình Máu Thánh Chúa thấm nhập vào người ông. Đi đến đâu, Mình Máu Thánh Chúa tỏa lan như một dòng điện nóng, làm tan chảy những tảng băng đông cứng đã chiếm hữu lòng ông từ bấy lâu nay...

Sau Thánh lễ mọi người hân hoan ra về, riêng có ông Từ là không thấy đâu. Cả đoàn xe phải chờ đợi ông mãi. Ai nấy đều thấy sốt ruột, lo lắng. Cuối cùng thì anh tài xế phải bỏ cả nhóm người mà đi tìm ông Từ. Sau một hồi lâu dạo quanh khu sân sau nhà thờ, anh mới thấy ông Từ một mình đang gục đầu cầu nguyện trước ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu. Anh tài xế đánh thức ông Từ rồi đưa ông lên xe.

 ♦♦♦

Về đến trung tâm, mọi người cho biết là hôm nay sẽ có những người trẻ ở nhà thờ đến hát giúp vui, mừng lễ Phục Sinh như năm ngoái. Ông Từ hớn hở đợi chờ. Rồi cả đoàn người bước vô. Ông cố nhìn mặt từng người một để tìm xem có cậu bé Việt không. Nhưng luống công vô ích. Cả đoàn người lần lượt bước vào hết mà ông Từ vẫn không thấy cậu bé đâu cả. Ông tiu nghỉu thất vọng, định bụng sẽ kéo xe lại một góc phòng nghe nhạc. Nhưng bỗng có tiếng của một đứa trẻ vang lên:

- Ông!

Ông Từ giật mình quay lại, nhận ra đó là cậu bé vẫn thường đến thăm ông khi trước. Thấy ông, Việt vụt khỏi tay mẹ, chạy ù đến bên âu ếm. Ông Từ mừng vui khôn xiết, dang rộng hai cánh tay ra ôm chầm lấy cậu bé. Hai dòng nước mắt trào ra vui sướng. Vừa lúc có tiếng nhạc nổi lên. Ông Từ gật gù hát lên khe khẽ:

Nào ta hãy mừng vui!
Chúa chiến thắng tử thần rồi.
Ngài chiếu ánh sáng khắp địa cầu.
Alleluia!

 
Tuyết Vân
Nguồn : Báo Đồng Hành.org

Đọc 1286 lần
Đánh giá bài viết
(0 Đánh giá)

Gương Thánh Nhân

Nhận Email

Đăng ký nhận Email để có những tin tức cập nhật